Thứ Sáu, 2 tháng 2, 2024

Cẩm nang du lịch Bắc Ninh

 Bắc Ninh là tỉnh có diện tích nhỏ nhất Việt Nam, nằm ở cửa ngõ phía bắc của thủ đô Hà Nội, với 8 đơn vị hành chính gồm: thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn và 6 huyện. Bắc Ninh có các đường giao thông lớn chạy qua, nối liền với các trung tâm kinh tế, thương mại và văn hoá lớn của miền Bắc.

Di chuyển

Bắc Ninh cách Hà Nội gần 40 km, thời gian di chuyển khoảng một tiếng. Đây là điểm đến thích hợp cho các hoạt động du lịch văn hóa dịp cuối tuần. Với người ở nơi xa, có thể kết hợp đến Hà Nội và Bắc Ninh trong cùng một chuyến đi. Phương tiện di chuyển từ Hà Nội khá thuận tiện, có thể bằng xe máy, ôtô riêng, taxi hoặc xe buýt.

Khu vực trung tâm đô thị, hành chính ở tỉnh Bắc Ninh. Ảnh: Bá Đô

Thời điểm đến Bắc Ninh

Từ tháng 1 đến tháng 3 là mùa lễ hội chùa Dâu, hội Lim, đền Đô... phù hợp cho những người thích tìm hiểu về văn hóa, phong tục tập quán. Các tháng mùa hè và thu, ở Bắc Ninh không có nhiều điều đặc biệt, nhưng bạn có thể tham quan các không gian tâm linh, làng nghề... Cuối năm, cánh đồng hoa cải bên sông Đuống nở vàng rực, thích hợp để chụp ảnh.

Khám phá

Hội Lim

Nhắc đến Bắc Ninh không thể không nhắc đến hội Lim. Đây không chỉ là một lễ hội đơn thuần mà còn hội tụ những tinh hoa của vùng đất Kinh Bắc này với làn điệu dân ca quan họ. Hội Lim được tổ chức vào ngày 13 đến 15 tháng giêng. Ngoài phần lễ trang trọng, phần hội mang đậm nét văn hóa dân gian như thi hát quan họ, trò chơi truyền thống...

Tháng 9/2009, quan họ Bắc Ninh được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Quan họ được hình thành khá lâu đời, do cộng đồng người Việt ở 49 làng quan họ và một số làng lân cận thuộc hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang sáng tạo ra. Hát dân ca quan họ thường diễn ra vào dịp đầu xuân năm mới, trong các lễ hội hay khi có đông bạn bè gặp gỡ nhau.

Ngoài hội Lim, Bắc Ninh còn được biết đến là quê hương của những lễ hội truyền thống với khoảng 500 lễ hội lớn, nhỏ mỗi năm.

Ảnh: Tổng cục Du lịch

Đền Đô

Đền Đô thuộc làng Đình Bảng, thị xã Từ Sơn. Lễ hội diễn ra vào tháng 3 Âm lịch nhưng hầu như quanh năm đều có khách thập phương đến tham quan, vãn cảnh. Ngôi chùa là nơi ở của 8 vị vua thời Lý.

Đình làng Đình Bảng

Dân gian xứ Bắc xa xưa có câu: "Thứ nhất là đình Đông Khang/ Thứ nhì đình Báng, vẻ vang đình Diềm". Ngày nay, đình Đông Khang không còn, đình Diềm trước có năm gian, nay còn ba gian. Chỉ có đình Báng (đình Đình Bảng) còn tương đối nguyên vẹn.

Đình làng Đình Bảng là công trình tâm linh có kiến trúc độc đáo, được xây dựng từ thế kỷ 17 với lối thiết kế hoàn toàn bằng gỗ. Nơi đây được xếp hạng một trong những ngôi đình đẹp nhất Việt Nam với tuổi đời hơn 300 năm. Đình nằm trong quần thể cùng với đền Đô.

Ảnh: Phan Dương

Chùa Tiêu

Ngôi chùa ở phường Tương Giang, TP Từ Sơn là danh lam cổ tự của tỉnh Bắc Ninh, ở trên lưng chừng núi, quanh năm cây cối u tịch. Ngôi chùa gồm các tòa tam bảo, nhà tổ, nhà bia và các công trình phụ trợ, là một trung tâm Phật giáo lớn thời Lý. Hiện nơi này lưu nhiều tài liệu cổ, những giai thoại phản ánh đời sống, lai lịch của vua Lý Thái Tổ. Đến chùa Tiêu, du khách còn được chiêm bái pho tượng thiền sư Như Trí bí ẩn và quý giá ở Việt Nam. Bên cạnh đó, đây là ngôi chùa hiếm hoi không đặt hòm công đức ở miền Bắc, các bàn giờ chỉ có hoa quả, bánh kẹo, đèn nhang...

Chùa Dâu

Chùa Dâu ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, nằm ở trung tâm khu di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu của xứ Kinh Bắc. Du khách đến chùa Dâu không chỉ đơn thuần là để cầu an mà còn là để được tận mắt ngắm nhìn kiến trúc độc đáo của "đệ nhất cổ tự trời Nam" (ngôi chùa cổ nhất Việt Nam). Ngôi chùa nổi bật bởi kiến trúc độc đáo, trong đó chính giữa là tháp Hòa Phong - xây bằng gạch trần cỡ lớn, trong tháp có treo quả chuông đồng và một chiếc khánh đúc.

Ảnh: Kiều Dương

Chùa Phật Tích

Tọa lạc trên núi Lạn Kha (xã Phật Tích, huyện Tiên Du), chùa Phật Tích là một ngôi cổ tự nghìn năm. Trong chùa có 10 tượng linh thú quỳ chầu độc đáo từ thế kỷ 11, gắn với lịch sử thời Lý.

Ảnh: Quang Chiến

Đây đều là những hiện vật gốc, độc bản, được tạo tác bằng đá sa thạch nguyên khối. Tượng 10 linh thú bằng đá được tạo thành từng cặp đăng đối chầu trước cửa Tam bảo của chùa, gồm: sư tử, voi, trâu, tê giác, ngựa. Bộ tượng 10 linh thú này đã được công nhận là bảo vật Quốc gia.

Đền Cùng - Giếng Ngọc

Đền Cùng ở khu Viêm Xá, phường Hòa Long, thành phố Bắc Ninh (còn gọi là làng Diềm). Đền Cùng đã nổi tiếng từ xưa, tương truyền quan quân triều đình đánh giặc dọc tuyến sông Cầu đến đây cầu đảo và thắng trận.

Nằm giữa sân đền Cùng là giếng Ngọc. Vào những ngày nóng bức, sau khi thăm quan và vào Đền dâng lễ, du khách thường không quên xin nước uống trong giếng Ngọc. Để lấy nước, du khách phải để giày, dép trên bờ và đi chân trần xuống dưới. Nước múc lên từ giếng có thể uống trực tiếp mà không cần lọc hay đun sôi, sẽ thấy vị mát lành và ngọt tự nhiên không đâu sánh được.

Dịp đầu năm hàng nghìn du khách đổ về di tích đền Cùng (làng Viêm Xá, Bắc Ninh) uống nước giếng Ngọc mong có sức khỏe, trẻ đẹp. Ảnh: Tiến Đạt

Làng tranh Đông Hồ

Làng Ðông Hồ nằm bên bờ sông Ðuống thuộc huyện Thuận Thành, từ lâu đi vào cuộc sống tinh thần của người dân Việt bằng những bức tranh đậm bản sắc dân tộc. Tranh làng Ðông Hồ không vẽ theo cảm hứng mà dùng ván in. Ðể có những bản khắc đạt trình độ tinh xảo phải có người vẽ mẫu, trình độ kỹ thuật cao. Giấy dùng in tranh là loại giấy dó, được bồi điệp làm nền, chất điệp óng ánh lấy từ vỏ sò, hến tạo nên chất liệu riêng biệt. Sau khi in thành tranh, các hình khối có sự hài hoà một cách tự nhiên.

Video Player is loading.
Hiện tại 0:11
/
Thời lượng 4:59
Đã tải: 0%
Tiến trình: 0%
Video: Insider

Làng gốm Phù Lãng

Làng nghề gốm Phù Lãng, huyện Quế Võ, được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia năm 2016. Ở Phù Lãng, dễ dàng bắt gặp hình ảnh các sản phẩm gốm xếp dọc đường làng, ngõ, xóm. Ngoài các sản phẩm gia dụng như ang, chum, vại... gốm Phù Lãng còn được dùng trang trí nội, ngoại thất...

Du khách đến tham quan có thể thử đắp sửa các hoa văn trên phôi gốm. Ảnh: Phạm Trắc Vũ

Gốm tại đây có men màu nâu, đen, vàng nhạt. Mỗi sản phẩm hoàn chỉnh trải qua nhiều công đoạn từ dàn đất, tạo hình, cắt khuôn, phơi, nung, ghép... Nét nổi bật của gốm Phù Lãng là sử dụng phương pháp đắp nổi theo hình thức chạm bong, màu men tự nhiên, bền và lạ. Dáng của gốm mộc mạc nhưng khỏe khoắn, chứa đựng vẻ đẹp nguyên sơ của đất và lửa.

Khu di tích Lệ Chi Viên

Khu di tích thuộc thôn Đại Lai, xã Đại Lai, huyện Gia Bình. Nơi đây nơi thờ Anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi và Lễ nghi học sỹ Nguyễn Thị Lộ. Lệ Chi Viên còn gắn liền với vụ án oan nghiệt khiến đại công thần Nguyễn Trãi bị chu di tam tộc vào năm 1442. Khu di tích được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.

Ẩm thực

Bánh phu thê Đình Bảng

Đây là một nét đặc trưng của nền văn hóa Kinh Bắc. Bánh phu thê được gói bằng lá dong rồi luộc lên, không khoe mùi, nhưng dưới lớp vỏ bánh sắc vàng trong suốt, nhân bánh hiện ra mời gọi. Ngoài đỗ xanh đãi sạch vỏ được hấp chín đánh tơi, người thợ chế biến còn cho thêm đường trắng, cùi dừa, hạt sen và hương ngũ vị. Bột làm bánh được làm từ gạo nếp, xay bằng cối nước, sau đó lọc lấy chất tinh, ép cho rá rồi phơi khô. Khi ăn bánh ta sẽ thấy độ dẻo của nếp, độ giòn của đu đủ, độ ngậy của đỗ xanh, vị béo của cùi dừa, vị bùi của hạt sen, vị ngọt của đường..., tất cả hòa quyện vào nhau làm thành hương vị rất riêng.

Bánh tẻ làng Chờ

Bánh tẻ làng Chờ là đặc sản của vùng đất Yên Phong. Để làm ra loại bánh tẻ mang hương vị đặc trưng này, bà con làng Chờ thường lựa chọn loại gạo tẻ có mùi thơm, độ dẻo vừa phải để làm nguyên liệu.

Ảnh: Phung Dung

Bên cạnh gạo, phần nhân gồm thịt lợn mông hoặc thịt vai, mộc nhĩ, hành khô, hạt nêm, nước mắm, tiêu... Bánh tẻ làng Chờ ngon nhất khi ăn nóng. Nhẹ nhàng dùng tay bóc lớp lá, hương thơm đượm từ vỏ bánh sẽ tỏa ra, quyện cùng hương thơm thanh mát của lá dong. Phần vỏ vừa mềm dẻo lại vừa dai giòn một cách tự nhiên mà không cần dùng hàn the.

Nem Bùi

Ảnh: Phong Vinh

Bạn không nên bỏ qua nem Bùi, một trong những món ăn nức tiếng vùng Kinh Bắc. Người dân địa phương gọi món ăn là nem thính (gạo rang đã xay nhuyễn). Tùy theo khẩu vị từng người, nem khi ăn được cuốn bằng lá sung hoặc lá đinh lăng chấm với tương ớt hay nước mắm.

Bạn sẽ cảm nhận được vị chát của lá sung, vị ngọt của thịt và mùi thơm lừng của thính. Nem Bùi xuất xứ ở làng Bùi, xã Ninh Xá, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Trải qua thời gian thăng trầm, vài năm trở lại đây nem Bùi ngày càng được nhiều người biết đến và trở thành món ẩm thực ngon rẻ.

Bánh khúc làng Diềm

Vào những ngày lễ Tết, hội hè, rằm hay mùng một, bánh khúc mới được làm để mời họ hàng, quan khách. Người làng Diềm không trồng mà hái rau khúc tự mọc ven các bãi đất trống, đất bồi ven sông, ruộng để làm bánh.

Quy trình làm một chiếc bánh không mất nhiều thời gian nên mỗi khi khách đến nhà, người làng Diềm mới bắt tay làm bánh. Chiếc bánh khúc là sự kết hợp hoàn hảo các sản vật đặc trưng, mang đến hương vị độc đáo không dễ gì trộn lẫn. Với nhiều loại bánh khác, người ăn có thể dùng 1-2 cái đã cảm thấy ngán nhưng với bánh khúc làng Diềm, ăn đến 4-5 chiếc vẫn thòm thèm.

Rượu làng Vân

Là món quà không thể thiếu khi bạn đến Bắc Ninh, rượu được nấu bằng thứ gạo nếp thơm ngon, cộng thêm men gia truyền là 35 vị thuốc bắc quý hiếm khiến rượu uống êm, vị đậm đà.


Cẩm nang du lịch Hải Dương

 Hải Dương tuy không phải là cái tên nổi bật trên bản đồ du lịch nhưng lại hấp dẫn du khách bởi những di tích lịch sử lâu đời cùng phong cảnh bình yên, hữu tình.

Đi Hải Dương mùa nào

Hải Dương phù hợp để tham quan cả 4 mùa trong năm. Tuy nhiên, mùa lễ hội từ tháng 1 đến tháng 3 là thời điểm đẹp nhất vì Hải Dương có nhiều đền chùa, di tích lịch sử. Mùa vải thiều vào vụ thu hoạch là từ tháng 5 đến tháng 6. Còn mùa hoa hướng dương vào tháng 10. Tháng 12 là mùa hoa dã quỳ nở, du khách tự do check-in với cả đường hoa dưới chân cầu Phú Tảo, TP Hải Dương.

Thành phố Hải Dương nhìn từ trên cao. Ảnh: Ngô Huy Hòa

Di chuyển

Hải Dương cách Hà Nội khoảng 60 km. Tới Hải Dương có đa dạng phương tiện di chuyển như xe cá nhân, xe khách, xe limousine, tàu hỏa...

Nhanh nhất là đi xe limousine với thời gian di chuyển nhanh và tiện nghi, chỗ ngồi rộng rãi, thoải mái. Bạn có thể tham khảo xe limousine tại Đi Chung có giá 250.000 đồng một vé, tần suất chạy liên tục, 30 phút có một chuyến. Lựa chọn rẻ hơn là Tuấn Hải limousine, đi xe 16 chỗ, tần suất 4 chuyến một ngày. Ngoài ra, bạn có thể lựa chọn đi xe khách, tham khảo các hãng Phúc Xuyên, Dũng Thủy... giá 60.000-70.000 đồng.

Trải nghiệm thú vị và thong thả hơn là đi tàu hỏa, về các ga Phú Thái, Hải Dương, Cẩm Giàng trên chiều tới Hải Phòng. Tàu hỏa xuất phát từ ga Long Biên, cuối tuần xuất phát từ ga Hà Nội.

Cầu Quang Thanh bắc qua sông Văn Úc, nối Hải Phòng và Hải Dương. Ảnh: Giang Chinh

Tham quan

Danh thắng

Đảo Cò Chi Lăng Nam

Đảo cò thuộc xã Chi Lăng Nam, huyện Thanh Miện. Với diện tích hơn 31.000 ha, nơi đây là khu vực sinh sống của khoảng 12.000 cá thể cò và 5.030 cá thể vạc. Các loại cò chính gồm lửa, ruồi, bợ, đen...., vạc có xám, xanh, đen...

Để tham quan, khách có hai lựa chọn là đạp vịt hoặc đi thuyền quanh các đảo nhỏ. Một tiếng động lớn cũng có thể khiến cả bầy xáo động. Từng đàn từ lùm cây vút lên nền trời xanh. Cùng tiếng kêu vang, tất cả tạo nên một khung cảnh ngoạn mục và hoang dã.

Chỉ mất khoảng một ngày để du khách đi hết đảo. Có những người tìm tới điểm homestay, nghỉ qua đêm để tận hưởng cảnh sắc yên bình cũng như tìm hiểu tỉ mỉ cuộc sống của cò. Nhờ đó, họ có thể quan sát thêm những cảnh tượng như lúc hàng đàn cò, vạc bay đi kiếm ăn vào sáng sớm và trở về lúc chiều tàn.

Đảo cò nhìn từ trên cao. Ảnh: Ngô Huy Hòa

Cánh đồng cỏ rễ

Bãi rễ nằm cạnh rừng thông ở phía nam chân núi Côn Sơn, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Cây rễ còn có tên là thanh hao, nở hoa trắng li ti vào mùa thu, với hương thơm dễ chịu. Đi thêm vài kilomet từ cánh đồng này bạn sẽ gặp vườn hồng trĩu quả vào mùa thu.

Khung cảnh dưới chân núi Côn Sơn mênh mông và thơ mộng nhờ thảm xanh của đồng rễ luôn thu hút nhiều bạn trẻ tới thăm thú, chụp ảnh. Ảnh: Hachi
Ảnh: Phương Trang

Cánh đồng hoa hướng dương

Vào tháng 10, cánh đồng hoa hướng dương ở đường Trường Chinh sẽ nở rộ, vàng ươm một vùng.

Vườn hoa đẹp nhất vào buổi sáng từ 8 - 9h, để có ánh nắng tự nhiên, không quá đông khách. Hoặc bạn có thể ghé nơi đây vào buổi chiều, từ 15h30 đến 17h30 để kết hợp ngắm hoàng hôn. Vườn mở cửa miễn phí. Vào buổi tối, những bông hoa thêm rực rỡ bởi các mô hình ánh sáng.

Cây vải tổ

Thanh Hà vốn có vải thiều ngon nức tiếng, ít ai biết vải trong vùng đều lấy giống từ cây tổ 200 tuổi của cụ Hoàng Văn Cơm. Cây vải tổ ở xã Thanh Sơn, huyện Thanh Hà tuổi đời hơn 200 năm, giữ kỷ lục "Cây vải thiều lâu năm nhất".

Cụ Hoàng Văn Cơm, người thôn Thúy Lâm, xã Thanh Sơn, huyện Thanh Hà mang hạt về ươm từ năm 1870. Cụ ươm lên 3 cây, nhưng chỉ một cây sống sót và ra quả, nhân giống thành những vườn vải thiều rộng khắp vùng Hải Dương. Đến nay cây vải tổ vẫn tươi tốt.

Cây vải có tuổi đời hơn 200 năm được xác lập kỷ lục "Cây vải thiều lâu năm nhất Việt Nam". Ảnh: Long Văn Vũ
Di tích lịch sử - văn hóa

Khu di tích quốc gia đặc biệt Côn Sơn - Kiếp Bạc

Ảnh: Lam Linh

Côn Sơn - Kiếp Bạc là khu di tích lịch sử gắn liền với tên tuổi các anh hùng, danh nhân văn hóa đất Việt như Trần Hưng Đạo và Nguyễn Trãi.

Đã đến Côn Sơn, du khách không thể không leo lên sườn núi Kỳ Lân thơ mộng, với đỉnh núi được gọi là Bàn Cờ Tiên. Còn sườn bên phải núi Kỳ Lân, nơi Nguyễn Trãi dựng nhà dạy học, nay vẫn còn dấu tích nền nhà xưa cùng với phiến đá lớn mà nhân dân địa phương thường gọi là Thạch Bàn, hay còn gọi là hòn đá "năm gian" (rộng bằng 5 gian nhà), nơi Nguyễn Trãi từng ngồi ngâm ngơ, đọc sách.

Kiếp Bạc nằm trên một khu đất bằng giữa thung lũng núi Rồng. Tam quan đền Kiếp Bạc như bức cuốn thư "Lưỡng long chầu nguyệt" bề thế. Đền Kiếp Bạc nhìn ra con sông Thương (còn gọi là sông Lục Đầu). Thời Trần, nơi đây là bến Bình Than.

Đi thuyền trên sông Bình Than lịch sử, giữa dòng, còn đó cồn cát dài 200m, gọi là Cồn Kiếm, do Trần Hưng Đạo để lại thanh kiếm báu cho đời sau giữ gìn Tổ quốc. Sau lưng đền Kiếp Bạc, là núi Trán Rồng sừng sững, bên tả có núi Bắc Đẩu, bên hữu là núi Nam Tào ba bề ôm lấy Kiếp Bạc hùng vĩ.

Ảnh: Ngô Huy Hòa

Văn miếu Mao Điền

Việt Nam có Văn miếu lớn, lâu đời nhất là Văn miếu Quốc Tử Giám tại Hà Nội, thứ hai là Văn miếu Mao Điền, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Văn miếu Mao Điền (Hải Dương) được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt.

Di tích được khởi lập cách đây hơn 500 năm, vào thời Lê sơ. Chữ Mao Điền là tên địa phương, chữ Mao có nghĩa là cỏ; Điền nghĩa là ruộng. Xưa kia nơi đây là khu ruộng rất rộng nhiều cỏ thơm, được chọn làm trường thi Hương của trấn Hải Dương, đến thời Tây Sơn Văn miếu được di chuyển từ Vĩnh Lại về sáp nhập với trương thi Hương. Từ đó, di tích có tên gọi là Văn miếu Mao Điền.

Văn miếu Mao Điền nằm ở phía Đông Bắc của làng Mao (hay còn ngọi là làng Mậu Tài) thuộc xã Cẩm Điền, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Văn miếu nằm ở phía Bắc đường Quốc lộ 5A chừng 200m, cách Thủ đô Hà Nội 42 km về phía Đông và cách trung tâm thành phố Hải Dương 16km.

Video Player is loading.
Hiện tại 0:14
/
Thời lượng 1:36
Đã tải: 0%
Tiến trình: 0%
Văn Miếu Mao Điền là Di tích quốc gia đặc biệt. Video: Giang Chinh

Đền Đươi

Đền Đươi còn có tên Quỳnh Hoa từ, ở làng Cẩm Cầu, xã Thống Nhất (Gia Lộc, Hải Dương). Đây là ngôi đền cổ được xây dựng từ thời nhà Lý (thế kỷ thứ 11). Năm 1991, đền Đươi được xếp hạng di tích cấp quốc gia.

Đền thờ Nguyên phi Thái hậu Ỷ Lan (7/3/1044-25/7/1117). Bà tên là Lê Thị Yến hay Lê Khiết, phi tần của hoàng đế Lý Thánh Tông, mẹ ruột của hoàng đế Lý Nhân Tông. Trong chiến tranh, đền Đươi là cơ sở cách mạng ở địa phương, trung tâm liên lạc kết nối với chiến khu Việt Bắc.

Đền Đươi, nơi thờ tự Nguyên phi Thái hậu Ỷ Lan là một trong số ít di tích lịch sử văn hóa cổ xưa còn được gìn giữ đến ngày nay trên đất Hải Dương. Ảnh: Giang Chinh

Chùa Thanh Mai

Chùa Thanh Mai lưu giữ bia "Thanh Mai Viên thông tháp bi" được công nhận bảo vật quốc gia. Ảnh: Giang Chinh

Chùa Thanh Mai thuộc xã Hoàng Hoa Thám, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Chùa xây dựng trên sườn núi Phật Tích, nay gọi là núi Tam Bảo. Trước chùa là núi Bái Vọng, nơi có phần mộ cụ Nguyễn Phi Khanh, thân phụ của anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới Nguyễn Trãi.

Chùa xây dựng từ thế kỷ 13. Đây là một trong những trung tâm của Phật giáo Việt Nam, nơi trụ trì của Pháp Loa tôn giả - vị Tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm. Trải qua năm tháng mưa nắng, chiến tranh, chùa cổ đã sụp đổ. Thời gian gần đây, chùa được khôi phục từng phần trên nền móng của một số công trình lớn. Chùa nằm dưới quần thể rừng phong trải rộng trên diện tích hơn 100 ha, trong đó hơn 50 ha nằm trọn trong đất chùa.

Quần thể An Phụ - Kính Chủ - Nhẫm Dương

Quần thể An Phụ - Kính Chủ - Nhẫm Dương là di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh quốc gia đặc biệt tại thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương. Di tích gồm An Phụ: gồm Đền An Phụ và chùa Tường Vân (Chùa Cao) thuộc xã An Sinh; Kính Chủ: Động Kính Chủ thuộc núi Kính Chủ, xã Phạm Mệnh (còn gọi là Bồ Đà, Quán Châu, Thạch Môn), lại có hang thông lên trời gọi là Dương Nham; Nhẫm Dương: chùa Nhẫm Dương (chùa Nhẫm, tên chữ là Thánh Quang) thuộc xã Duy Tân.

Đền An Phụ nằm trên đỉnh núi cao nhất của dãy An Phụ. Ảnh: Sở VHTTDL tỉnh Hải Dương

Đền An Phụ còn có tên là Đền Cao. Đền nằm trên đỉnh núi cao nhất của dãy An Phụ. Tương truyền, đền được xây dựng vào thời Trần (thế kỷ XIII), thờ An Sinh vương Trần Liễu - Thân phụ của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn. Đền được xây dựng theo kiểu kiến trúc tiền nhất hậu đinh, gồm có tiền tế, trung từ và hậu cung. Hậu cung có thờ tượng Trần Liễu và hai cháu nội Đệ Nhất Vương Cô và Đệ Nhị Vương Cô - con gái của Hưng Đạo Đại Vương.

Động Kính Chủ có nhiều ngõ ngách, chính giữa là ban thờ Phật, bên phải là bệ thờ vua Lý Thần Tông và Lý Chiêu Hoàng, phía trong thờ Đức Thánh Hiền, Ban Cô. Bên trái động thờ Thành Hoàng, Đức Ông. Sâu hơn ở phía trong là tượng Đệ Tam Tổ Trúc Lâm Huyền Quang tôn giả.

Hiện tại, trong động còn tổng 47 bia ma nhai như một bảo tàng về văn bia với những nét chạm khắc tài hoa, phản ánh rõ nét phong cách trang trí mỹ thuật đương thời từ thời Trần, Lê Sơ, Mạc, Lê Trung Hưng đến thời Nguyễn thế kỷ XIX.

Động Kính Chủ, Kinh Môn. Ảnh: Hoàng Hiệp/Sở VHTTDL tỉnh Hải Dương

Chùa Nhẫm Dương, tên chữ là Thánh Quang tự, là một ngôi chùa lớn, được khởi dựng từ thời Trần, được tôn tạo và khá sầm uất vào thời Lê, thời Nguyễn. Chùa còn bảo lưu được 2 tháp đá thời Lê - bảo vật quý giá cho thấy bề dày lịch sử của ngôi chùa. Chùa Nhẫm Dương còn có các di chỉ khảo cổ học như động Thánh Hoá và Hang Tối, với 1.796 hiện vật - chủ yếu là hoá thạch của các loài động vật có niên đại từ 3 - 5 vạn năm.

Chùa Giám

Di tích lịch sử quốc gia chùa Giám, thuộc xã Cẩm Sơn, huyện Cẩm Giàng, Hải Dương có tháp Cửu Phẩm Liên Hoa. Theo đại diện Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Hải Dương, ngôi chùa xây dựng từ năm 1336, thờ Đại danh y Tuệ Tĩnh.

Toà tháp hình lăng trụ lục giác là công trình nổi bật nhất của chùa Giám, làm từ gỗ lim, cao khoảng 8 m, nặng 4 tấn với nhiều chi tiết chạm trổ cầu kỳ. Ở giữa tháp là một trục quay giúp cả công trình có thể xoay tròn bằng sức đẩy của một người.

Mỗi tầng tháp có 18 bức tượng. Mỗi mặt có 3 bức gồm tượng Phật ở giữa và tượng Bồ Tát ở hai bên. Giữa các tầng đều có cột đỡ chạm khắc mô phỏng thân cây trúc. Ảnh: Kiều Dương

Làng nghề truyền thống

Làng gốm Chu Đậu

Làng gốm Chu Đậu thuộc xã Thái Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Chu là thuyền, Đậu là bến, tức thuyền đậu bên bến sông. Chu Đậu vốn là làng quê nhỏ bên dòng sông Thái Bình, danh tiếng lan xa đến khi xuất hiện những dấu vết về nghề gốm đạt đến đỉnh cao về kỹ thuật và nghệ thuật nổi tiếng bậc nhất trên thế giới hàng thế kỷ trước.

Ảnh: Ninh Hải/Sở KHCN tỉnh Hải Dương

Sản phẩm tiêu biểu và đặc sắc nhất của gốm Chu Đậu cổ là chiếc bình Hoa Lam và bình Tỳ Bà còn được gọi là bình cha, bình mẹ. Bình tỳ bà mang dáng hình cây đàn tỳ bà đại diện cho tính âm, đất mẹ hiện thân cho người phụ nữ Việt Nam dịu dàng hiền thục nết na. Bình hoa lam thể hiện cho tính dương là người chồng, là cha, là trụ cột là nền tảng.

Làng chạm khắc gỗ Đông Giao

Tác phẩm điêu khắc gỗ của nghệ nhân làng Đông Giao. Ảnh: @chinhdieukhac/Instagram

Làng chạm khắc gỗ Đông Giao thuộc xã Lương Điền, huyện Cẩm Giàng, cách thành phố Hải Dương 20km về phía Tây.

Tương truyền, nghề chạm khắc gỗ ở Đông Giao đã có trên 300 năm nhưng bị mai một dần. Đến năm 1983 nghề được phục hồi và phát triển như ngày nay. Thợ làng Đông Giao khéo léo, thông minh với bản chất cần cù chịu khó nên không ngừng sáng tạo, cải tiến mẫu mã, nâng cao tay nghề.

Làng rối nước Thanh Hải

Hải Dương còn lại 3 phường múa rối là Hồng Phong, Thanh Hải và Lê Lợi. Tất cả đều tận dụng ưu thế là địa điểm biểu diễn xen lẫn với nhà cửa, ruộng đồng. Nhờ vậy, du khách có được cảm giác gần gũi khi theo dõi.

Con rối được làm từ gỗ sung nên nhẹ và dễ điều khiển trên mặt nước. Nhờ đó, các hoạt động trở nên linh hoạt, đem đến cảm xúc chân thật nhất tới du khách. Ảnh: Diệu Huyền

Trong ao nước nhỏ nằm giữa xóm làng, một thủy đình được xây dựng làm địa điểm biểu diễn. Những câu chuyện ruộng đồng được người địa phương, thường quen với tay cầy tay cấy khơi gợi khéo léo. Các tiết mục múa tứ linh, chuyện chàng câu ếch... cứ thế diễn ra tự nhiên được du khách hưởng ứng nhiệt tình.

Khác với nhiều nơi, nghệ thuật múa rối ở đây có hệ thống điều khiển khác biệt. Nếu nhiều phường khác sử dụng sào đưa rối ra rồi giật dây, người dân nơi này cắm cọc âm dưới nước rồi nối dây lại. Khi đó, mỗi hoạt động, cử chỉ của "nhân vật" sẽ do sự khéo léo, tài tình của họ điều khiển.

Người Hải Dương còn nghề làm gốm làng Cậy (xã Long Xuyên, Bình Giang), nghề thêu ở Xuân Nẻo (xã Hưng Đạo, Tứ Kỳ), nghề làm vàng bạc Châu Khê (xã Thúc Kháng, Bình Giang), nghề làm lược tre ở làng Hoạch Trạch (xã Thái Học, Bình Giang), nghề khâu nón Mao Điền (Cẩm Giàng), nghề làm giường chõng tre (xã Nhân Quyền, Bình Giang); nghề làm bánh gai (Ninh Giang), nghề làm bánh đậu xanh, nấu rượu Phú Lộc (Cẩm Giàng), nghề điêu khắc đá Kính Chủ (Kinh Môn)...

Trò chơi dân gian

Những trò chơi dân gian độc đáo được duy trì phải kể đến như đánh pháo đất ở Ninh Giang, Tứ Kỳ, Gia Lộc; thả diều ở Kinh Môn; thổi cơm thi ở Thanh Hà; nặn tò he ở Nam Sách; đánh bệt ở đền Sượt; múa lễ chữ ở Bình Giang...

Trong đó, pháo đất là trò chơi dân gian được tổ chức từ đầu năm đến hết tháng 4 âm lịch. Những trận đấu pháo giữa các làng thường được tổ chức ở sân đình vào các ngày rằm và mùng 1 hằng tháng. Người dân quan niệm, tiếng pháo nổ càng to càng tốt, để dân làng có thêm một mùa mưa thuận gió hòa, vụ mùa bội thu.

Nhiều nơi bảo tồn di sản văn hóa này gồm xã Minh Đức, Quang Khải (huyện Tứ Kỳ); Nghĩa An, Ứng Hòe, Kiến Quốc (huyện Ninh Giang); Đức Xương (huyện Gia Lộc)... Tỉnh Hải Dương còn đưa Hội thi pháo đất toàn tỉnh vào Lễ hội mùa xuân Côn Sơn - Kiếp Bạc vào ngày 16 tháng giêng âm lịch hàng năm.

Người dân Ninh Giang, Tứ Kỳ duy trì trò chơi dân gian pháo đất. Ảnh: Hoàng Hiệp/Báo Hải Dương

Đặc sản

Bánh đậu xanh

Nhắc đến Hải Dương, phần lớn ý nghĩ về quà ngon đều tập trung về bánh đậu xanh. Món này ra đời vào đầu thế kỷ 20 và dù không có vẻ ngoài bắt mắt, hương vị thơm ngon đặc trưng của bánh đậu xanh vẫn níu giữ sự quan tâm nhiều lữ khách. Nguyên liệu làm món này gồm đậu xanh, đường kính, mỡ lợn và dầu hoa bưởi.

Ảnh: Koel

Người làm giàu kinh nghiệm thường chọn đậu xanh loại mỏng, phơi khô, rang chín vàng sau đó mới xay thành bột mịn. Còn mỡ lợn rán nhỏ lửa để không bị cháy, sau đó lọc và chỉ lấy phần trong suốt. Đường kính hòa nước, cũng tiếp tục lọc sạch, thêm tinh dầu hoa bưởi trộn cùng nhau thật khéo léo theo tỷ lệ hợp lý, mới ra những chiếc bánh thơm ngon. Thưởng thức bánh đậu xanh, bạn hãy nhấp thêm chén nước chè. Vị ngăn ngắt đắng và chát sẽ tăng thêm cảm giác ngọt bùi của bánh.

Chả rươi

Ảnh: Phan Anh

Ở Hải Dương, rươi có ở các vùng ruộng trũng Kinh Môn, Kim Thành, Thanh Hà, Tứ Kỳ. Cứ vào "tháng chín đôi mươi tháng mười mồng năm" khi nước triều dâng lên ngập các ruộng, rươi từ dưới lòng đất chui lên từng đàn bơi ra sông. Rươi rửa sạch, để ráo nước rồi đổ rươi vào âu dùng đũa đánh nhuyễn trộn cùng các loại trên. Dùng nồi hấp cho rươi chín rồi cho vào chảo mỡ rán. Rươi nóng hổi cuộn lá rau diếp ăn kèm rau thơm cùng bún rồi chấm nước mắm sẽ cảm thấy vị ngậy ngậy.

Bánh gai

Xuất hiện tại Hải Dương từ thế kỷ 12, bánh gai nhanh chóng nổi tiếng khắp xa gần và tồn tại đến ngày nay. Đây là món bánh giản dị, được làm từ những nguyên liệu ruộng vườn nhưng vẫn khiến thực khách nhớ mãi. Nguyên liệu bánh gai chia thành hai phần gồm vỏ và nhân. Trong đó, vỏ chỉ gồm gạo nếp và lá gai còn phần nhân có mỡ lợn, đậu xanh, dừa và hạt sen.

Bánh gai có vị ngọt tự nhiên và không ngấy. Ảnh: Diệu Huyền.


Cách chế biến cầu kỳ nhất ở phần nhân. Trong đó, mỡ lợn được ướp đường sao cho giòn như mứt bí. Hạt sen, đậu xanh ninh nhừ, tán nhuyễn và trộn cùng mỡ lợn, dừa tươi, đường. Bánh gai được gói lá chuối khô, hấp chín trong vòng 2 giờ. Bên cạnh bánh gai còn có bánh gấc, nổi tiếng ở Ninh Giang.

Vải thiều Thanh Hà

Vào tháng 5, tháng 6, khắp Hải Dương, đặc biệt là vùng đất Thanh Hà bạt ngàn các cây vải thiều chín rộ. Những chùm vải chín sắc đỏ rực lẫn trong tán lá xanh biếc. Len lỏi vào các khu vườn, bạn sẽ tận hưởng không khí trong lành, thích thú khi được tận tay hái những chùm vải chín lúc lỉu, cảm nhận hương thơm và vị ngọt mát quyến luyến nơi đầu lưỡi. Đặc trưng của vải Thanh Hà là vỏ chín có màu đỏ tươi, bề mặt phẳng đều, cùi vải dày, màu trắng trong, giòn, vị ngọt thanh và mùi thơm nhẹ.

Ảnh: Ngọc Thành

Bún cá rô đồng

Cá rô đồng thịt chắc, mềm và vị ngọt vừa vặn. Cá sau khi sơ chế, đem luộc rồi mới ướp gia vị, bột nghệ và xào cùng hành tỏi. Một số nơi, phần thịt cá này còn được rán để không bị nát khi ăn cùng bún.

Nước dùng cũng là phần quan trọng, được tận dụng từ nước luộc cá có thả thêm cà chua, dứa... Một bát bún cá rô đồng thường ăn kèm rau muống hoặc cần, ngót... và một số rau gia vị khác như xà lách, hoa chuối.

Bánh đa

Đặc trưng ở Hải Dương là bánh đa mềm, dai, không bị nát khi ngâm lâu trong nước. Để có những sợi bánh đa như vậy, người dân nơi đây tiết lộ chỉ sử dụng gạo Q5. Khách mua món đặc sản này về có thể chế biến thành nhiều món ngon như xào thịt lợn, nấu cùng cá, thịt gà...